Đề thi văn khiến nhiều thí sinh không khỏi bất ngờ

Sáng ngày 7/7, kỳ thi THPT QG diễn ra với sự tham gia của học sinh lớp 12 trên toàn quốc. Nhiều thí sinh khá bất ngờ với đề thi năm nay…

Nhận định chung về đi thi năm nay

Sáng ngày 7/7, các sĩ tử đã bước vào môn thi đầu tiên. Phần lớn thí sinh đều nhận xét: đề thi môn Văn THPT Quốc gia 2021 bám sát nội dung kiến thức chương trình đã học, có kết cấu giống với đề thi minh họa đã được Bộ GD-ĐT công bố trước đó.

Đề thi năm nay yêu cầu phân tích vẻ đẹp trữ tình của người con gái trong bài “Sóng” của Xuân Quỳnh.

Theo ghi nhận, nhiều thí sinh kêu “hơi khó” phần Đọc hiểu. Phần Làm văn ra về 3 khổ thơ đầu bài Sóng của Xuân Quỳnh.

Đề thi năm nay không có các dạng câu nhận định về phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ giúp thí sinh kiếm điểm.

Về phần đọc hiểu đơn thuần chỉ là “đọc và hiểu”. Đoạn văn nói về sự đóng góp và cống hiến. 

Dưới đây là đáp án của môn ngữ văn

Đáp án môn ngữ văn

PHẦN I. ĐỌC HIỂU

Câu 1. 

Trong đoạn trích, sự ra đời của một dòng sông được diễn ra như sau: Từ những kẽ hở trên mặt đất, nước trào lên, mát lạnh và trong lành. Từ một dòng nước nhỏ, nước hòa vào với nước tươi mát rơi từ trên trời và nước thấm vào đất để tạo nên một dòng suối nhỏ cứ chảy mãi xuống cho tới khi, một dòng sông ra đời.

Câu 2.

Món quà cuối cùng nước dành tặng cho loài người trước khi hòa vào biển cả là những vùng nông nghiệp vĩ đại nhất trên thế giới được hình thành từ những vùng châu thổ màu mỡ.

Câu 3.

Những câu văn giúp con người hiểu được:

– Về dòng chảy của nước: Hiền hòa, dịu nhẹ, là người bạn chứng kiến, gắn bó với cuộc sống của con người. 

– Về cuộc sống của con người: Bình yên, giản dị, đầm ấm, hạnh phúc. 

Câu 4. Đây là một câu hỏi mở. Học sinh nêu cách hiểu của cá nhân. Cần lí giải thuyết phục, hợp lí. Sau đây là gợi ý:

– Cuộc sống là một hành trình dài. Trong hành trình ấy, con người cần gắn kết với thế giới xung quanh, cống hiến những gì đẹp đẽ nhất cho cuộc đời.

– Cuộc đời riêng của mỗi người là một phần của cuộc sống, hãy biết hòa nhập vào cuộc đời chung để tạo nên những điều tốt đẹp. 

–  Cuộc sống có ý nghĩa khi con người sống hết mình, trân trọng từng giây phút trong cuộc đời.

PHẦN II. LÀM VĂN

Câu 1: (2,0 điểm)

Đề bài: Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải biết sống cống hiến.

Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn (0,25 điểm)

– Viết thành đoạn văn (khoảng 200 chữ). 

– Có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng-phân-hợp, móc xích hoặc song hành.

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0,25 điểm)

Sự cần thiết phải biết sống cống hiến.

Triển khai vấn đề nghị luận (1,0 điểm)

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ sự cần thiết phải biết sống cống hiến. Có thể theo hướng sau:

– Giải thích: Cống hiến là tự nguyện dâng hiến công sức, đóng góp sức mình cho cộng đồng, xã hội.

→  Khẳng định vai trò, sự cần thiết của lẽ sống cống hiến.

– Bình luận:

Sống cống hiến tạo ra sức mạnh to lớn cho cộng đồng, lan tỏa những năng lượng tích cực, những thông điệp có ý nghĩa, góp phần làm cho xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh.

Sống cống hiến mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho mỗi cá nhân, định hướng giúp mỗi cá nhân tự hoàn thiện mình, có ý thức trách nhiệm với bản thân, với đất nước.

Sống cống hiến thể hiện nét đẹp truyền thống của ông cha ta.

– Chứng minh: Nêu và phân tích được một vài minh chứng cho sự cần thiết phải biết sống cống hiến. Gợi ý: 

Chủ tịch Hồ Chí Minh vì độc lập của dân tộc, đã dành trọn cả cuộc đời cống hiến cho đất nước, cho nhân dân.

Các y bác sĩ đã toàn tâm, toàn lực đi sâu vào vùng dịch bệnh để cùng nhân dân các tỉnh, thành phố khoanh vùng dịch, dập dịch không quản ngại khó khăn, gian khổ.

– Liên hệ, mở rộng: Liên hệ đến nhận nhận thức và hành động của bản thân về sự cần thiết phải sống cống hiến. Gợi ý:

Có suy nghĩ đúng đắn, hành động thiết thực vì lợi ích chung của cộng đồng.

Phê phán những con người sống vị kỉ, vụ lợi,…

Chính tả, ngữ pháp (0,25 điểm)

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt.

Sáng tạo (0,25 điểm)

Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận